Công khai danh mục dự án lựa chọn nhà đầu tư chiến lược
Ngày 11/8, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật Phát triển đô thị. Về tháo gỡ các dự án chậm triển khai tại khoản 5 Điều 33, đại biểu Quốc hội Nguyễn Ngọc Sơn (Đoàn Hải Phòng) cho rằng, đây là nguồn lực lớn đang bị đóng băng, đất đai chưa được sử dụng hiệu quả. Việc đưa quy định vào dự thảo là hướng tiếp cận cần thiết.
Tuy nhiên, theo ông Sơn cần bổ sung hai khóa kiểm soát. Một là, khi cho phép tiếp tục dự án phải rà soát, xác định đầy đủ nghĩa vụ tài chính về đất đai và nghĩa vụ phát sinh do việc điều chỉnh, tiếp tục dự án; bảo đảm Nhà nước không thất thu nhưng cũng không xác lập lại nghĩa vụ đã được thực hiện hợp pháp. Không thể để cơ chế giải phóng nguồn lực trở thành cơ chế hợp thức hóa lợi ích phát sinh từ việc dự án bị kéo dài.
Hai là, với dự án có giá trị đất đai, tài sản công hoặc nghĩa vụ tài chính lớn, phức tạp, cần có thẩm định liên ngành trước khi quyết định. Đồng thời, đề nghị cân nhắc thời hạn đến ngày 31/12/2036; một cơ chế đặc biệt xử lý tồn đọng mà kéo dài tới 10 năm sẽ làm giảm tính cấp bách và có thể tiếp tục tạo tâm lý chờ đợi.
Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn phát biểu (Ảnh: Quang Vinh)
Liên quan đến Quy hoạch tổng thể Thành phố, theo ông Sơn, Quy hoạch này thay thế và có giá trị pháp lý như quy hoạch tỉnh và quy hoạch chung đô thị đặc biệt, tức là một bước phân quyền rất mạnh. Đồng tình tăng quyền chủ động cho đô thị đặc biệt. Nhưng quy hoạch của một siêu đô thị tác động vượt địa giới hành chính, liên quan giao thông vùng, cảng biển, sân bay, nguồn nước, lưu vực sông và nhiều kết cấu hạ tầng quốc gia.
Tờ trình của Chính phủ nêu Chủ tịch UBND Thành phố báo cáo Thủ tướng trước khi phê duyệt, nhưng khoản 3 Điều 10 dự thảo chỉ quy định phê duyệt sau khi Hội đồng nhân dân thông qua.
Theo ông Sơn, chỉ quy định nghĩa vụ báo cáo là chưa đủ, vì báo cáo không đồng nghĩa với cơ chế xử lý khi có ý kiến khác nhau. Đề nghị Luật quy định rõ việc lấy ý kiến và xử lý ý kiến của Chính phủ hoặc Thủ tướng đối với nội dung liên quan quy hoạch ngành quốc gia, kết cấu hạ tầng quốc gia và liên vùng trước khi Thành phố phê duyệt.
Về lựa chọn nhà đầu tư chiến lược, ông Sơn đánh giá, Báo cáo 681 đã tiếp thu yêu cầu công khai danh mục dự án, tiêu chí lựa chọn và kéo dài thời hạn tiếp nhận hồ sơ. Cần thể hiện trực tiếp trong dự thảo chỉnh lý, không dừng ở báo cáo giải trình. Thiết kế hiện nay chưa bảo đảm cạnh tranh thực chất. Dự án trong danh mục có quy mô từ 800 tỷ đến 75.000 tỷ đồng, cần thời gian nghiên cứu khả thi và thu xếp vốn; nhưng thời hạn để nhà đầu tư thứ hai nộp hồ sơ chỉ là 7 ngày.
Cho rằng về hình thức là cạnh tranh, nhưng trên thực tế rất khó để nhiều nhà đầu tư có đủ thời gian chuẩn bị, thêm nữa, tiêu chí chấm điểm lại được ban hành sau khi đã tiếp nhận hồ sơ, từ đó ông Sơn đề nghị công khai danh mục dự án và tiêu chí chấm điểm trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia trước khi tiếp nhận hồ sơ, đồng thời kéo dài đáng kể thời hạn tiếp nhận; với dự án quy mô lớn có thể nghiên cứu tối thiểu 45 ngày để bảo đảm cạnh tranh thực chất. Điều cần kiểm soát không phải là nhà đầu tư có được gọi là chiến lược hay không, mà là quá trình lựa chọn có thực sự cạnh tranh, minh bạch hay không.
“Tinh thần lớn của dự án Luật là trao quyền mạnh hơn để tạo động lực phát triển. Nhưng trao quyền càng mạnh thì càng phải luật hóa rõ ba yêu cầu: ranh giới của quyền lực, trách nhiệm của người quyết định và cơ chế kiểm soát độc lập. Nếu làm rõ được ba vấn đề này, Luật Phát triển đô thị không chỉ giúp các đô thị được làm nhiều hơn, mà quan trọng hơn là làm nhanh hơn, hiệu quả hơn, vẫn bảo đảm an toàn pháp lý, bảo vệ nguồn lực công và lợi ích lâu dài của người dân”, ông Sơn nói.
Các thành phố chưa phải đô thị đặc biệt được thực hiện một số chính sách thúc đẩy phát triển đô thị
Theo đại biểu Phạm Văn Thịnh (Đoàn Bắc Ninh), tại khoản 5, Điều 1 có nêu: Chính phủ quy định phạm vi áp dụng cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt cho các trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 điều này.
Ông Thịnh nhìn nhận quy định như vậy sẽ dẫn tới hai việc: các thành phố trực thuộc trung ương nhưng chưa phải là đô thị đặc biệt sẽ chưa được triển khai các cơ chế, chính sách quy định tại Luật dù chỉ một phần, vì phải cần có chủ trương của cấp có thẩm quyền, phù hợp với điều kiện đặc thù, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng thành phố. Đồng thời, quy định tại khoản 5 thì các thành phố chưa phải là đô thị đặc biệt, Chính phủ lại cần tiếp quy định về phạm vi áp dụng cơ chế, chính sách thì mới có thể triển khai được trong thực tiễn.
Đại biểu Phạm Văn Thịnh phát biểu (Ảnh: Quang Vinh)
Với lý do đó, ông Thịnh đề xuất 2 phương án. Theo đó phương án 1 quy định: Các thành phố chưa phải là đô thị đặc biệt sẽ được thực hiện một số cơ chế chính sách thúc đẩy phát triển đô thị nêu trong Luật, không cần thêm điều kiện là phải có chủ trương cấp có thẩm quyền và phải có quy định về phạm vi áp dụng của Chính phủ nữa.
Còn Phương án 2 quy định: Vẫn giữ cần có chủ trương của cấp có thẩm quyền nhưng nên bỏ cần phải có quy định về phạm vi áp dụng; đồng thời cố gắng cụ thể lượng hóa tiêu chí về điều kiện, yêu cầu phát triển để một thành phố không phải là đô thị đặc biệt được áp dụng một số chính sách của Luật.