Lãnh đạo Công ty Lọc hóa dầu Việt Nam: Hơn 10.000 tỷ đồng có thể chảy vào túi nông dân nhờ xăng E10

Lãnh đạo BSR cho biết nhu cầu khoảng 1 triệu m³ ethanol mỗi năm để phục vụ xăng E10 đang mở ra một thị trường trị giá gần 20.000 tỷ đồng, trong đó một nửa nguồn thu có thể trở lại cho khu vực nông nghiệp.

Chia sẻ tại Diễn đàn "Phát triển nhiên liệu sinh học 2026: Từ chủ trương của Đảng đến hành động quốc gia" sáng 17/6, ông Mai Tuấn Đạt - Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Lọc hóa dầu Việt Nam (BSR) cho biết từ năm 2015, thực hiện Quyết định 53 của Chính phủ, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất đã triển khai sản xuất và phân phối xăng E5 tại Quảng Ngãi. Trải qua hơn một thập kỷ, thực tế đã chứng minh xăng sinh học vận hành trơn tru, không ghi nhận bất kỳ sự cố nào liên quan đến động cơ hay phương tiện của người tiêu dùng.

Hiện tại, công suất phối trộn xăng E10 của doanh nghiệp đạt khoảng 150.000 mét khối/tháng, phần còn lại vẫn duy trì các dòng xăng truyền thống.

Khi phủ sóng xăng E10 toàn quốc, ông Đạt cho biết nhu cầu về Ethanol (E100) dùng để phối trộn xăng E10 được dự báo sẽ đạt khoảng 1 triệu khối mỗi năm. Tính theo thời giá hiện tại, thị trường này sẽ tạo ra một nền kinh tế quy mô xấp xỉ 20.000 tỷ đồng. Nếu tính chi phí nguyên liệu chiếm khoảng 70%, sẽ có hơn 10.000 tỷ đồng trực tiếp chảy về túi của những người nông dân, ngư dân và người làm lâm nghiệp. Đây là một con số khổng lồ, mở ra sinh kế bền vững cho hàng triệu người.

Tuy nhiên, khi BSR tham gia đầu tư các nhà máy sản xuất ethanol, một bài toán thực tế từ thị trường đặt ra: nhu cầu ethanol cho thị trường vào khoảng 1 triệu m³ mỗi năm, vậy nguồn cung sẽ đến từ đâu?

Vị Phó Tổng Giám đốc BSR cho biết trong một nền kinh tế mở, đơn vị nào có năng lực cạnh tranh tốt hơn sẽ giành được thị phần lớn hơn. Với bối cảnh hiện nay, cần nhìn vào bức tranh toàn cầu, Mỹ hiện là quốc gia sản xuất khoảng 52% sản lượng ethanol của thế giới, tiếp theo là Brazil với khoảng 27%. Việt Nam mới ở giai đoạn khởi động, năng lực sản xuất trong nước vẫn còn khá khiêm tốn. Do đó, để bảo đảm nguồn cung, phải kết hợp cả sản xuất trong nước và nhập khẩu.

“Từ góc độ doanh nghiệp sản xuất, câu hỏi đặt ra là chúng tôi đang cạnh tranh với ai. Thực tế, một nhà máy nhiên liệu sinh học đặt tại Dung Quất phải cạnh tranh với các nhà sản xuất trên toàn cầu. Khi Mỹ có lợi thế quy mô, cùng các chính sách hỗ trợ mạnh mẽ cho ngành ethanol trong nhiều năm qua, đây là thách thức rất lớn đối với doanh nghiệp sản xuất trong nước”, ông Đạt cho biết.

Lãnh đạo Công ty Lọc hóa dầu Việt Nam: Hơn 10.000 tỷ đồng có thể chảy vào túi nông dân nhờ xăng E10- Ảnh 2.

BSR cho biết đang phải đối diện với bài toán nguồn cung và chi phí ethanol dùng để phối trộn E10.

Dưới góc độ cơ quan quản lý, ông Đào Duy Anh, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công, Bộ Công Thương cho biết để phục vụ lộ trình theo Quyết định 53 của Chính phủ, trong giai đoạn 2010-2014, Việt Nam đã đầu tư xây dựng 7 nhà máy sản xuất ethanol.

Đến nay, có 4 nhà máy đang hoạt động hoặc đã được khôi phục hoạt động. Với công suất hiện tại chưa vận hành hết thiết kế, tổng sản lượng đạt khoảng 20.000-25.000 m³ mỗi tháng.

Sản lượng này mới đáp ứng khoảng 25% nhu cầu ethanol để phối trộn cho khoảng 1 triệu m³ xăng dầu tiêu thụ mỗi tháng, tương đương nhu cầu khoảng 100.000 m³ cồn phối trộn.

Tuy nhiên, khi đầu ra thị trường được bảo đảm, các nhà máy còn lại đã đầu tư trước đây có thể được tái khởi động. Khi đó, 6 nhà máy có khả năng hoạt động sẽ đạt tổng công suất khoảng 500.000 m³ ethanol mỗi năm.

Riêng nhà máy ethanol Phú Thọ hiện vẫn chưa rõ khả năng vận hành trở lại. Vì vậy, với 6 nhà máy có thể phục hồi trong thời gian tới, sản lượng dự kiến đạt khoảng 500.000 m³ mỗi năm, đáp ứng khoảng 50% nhu cầu ethanol phục vụ pha chế xăng E10 theo quy mô hiện nay.

Tuy nhiên ông Đào Duy Anh cũng băn khoăn về nguồn nguyên liệu sản xuất ethanol với ba nguồn chính là sắn, ngô và mía. Tại Việt Nam, ethanol chủ yếu được sản xuất từ sắn, trong khi ngô chủ yếu phục vụ chăn nuôi với sản lượng khoảng 4 triệu tấn/năm, còn mía chủ yếu dùng cho ngành đường.

Việt Nam hiện có khoảng 5 triệu tấn sắn lát khô mỗi năm. Với công nghệ hiện nay, trung bình 3 tấn sắn khô sản xuất được 1 m³ ethanol. Như vậy, để sản xuất 1 triệu m³ ethanol cần khoảng 1,5 triệu tấn sắn khô.

Xét riêng về nguồn cung sắn, Việt Nam hoàn toàn có khả năng đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất ethanol trong nước. Tuy nhiên, sắn còn được sử dụng cho ngành tinh bột và chăn nuôi nên phải cạnh tranh với nhiều lĩnh vực khác.

Về nguyên liệu đầu vào cho sản xuất Ethanol , lãnh đạo BSR cho biết không thể chỉ phụ thuộc vào sắn. Trong tương lai sẽ phải mở rộng sang ngô và các loại nguyên liệu khác có tính sẵn sàng cao hơn, đồng thời bảo đảm hiệu quả chi phí tốt hơn.

“Không có con đường nào khác ngoài việc đầu tư phát triển công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh, qua đó giành được thị phần lớn hơn trong thị trường ethanol quy mô khoảng 1 triệu m³ mỗi năm”, ông nói.