Kiến tạo động lực tăng trưởng mới

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng vừa ký Quyết định số 1413/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam gắn với thực hiện mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, liên tục đến năm 2045” (gọt tắt là Đề án).

Trao đổi với phóng viên Báo SGGP, Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi nhấn mạnh, Đề án đánh dấu bước phát triển mới trong quá trình hoàn thiện thể chế, hiện đại hóa và nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường tài chính Việt Nam theo hướng đồng bộ, minh bạch, bền vững và hội nhập quốc tế, tạo nền tảng huy động, phân bổ hiệu quả các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

PHÓNG VIÊN: Thưa Thứ trưởng, Đề án này đặt ra tầm nhìn đến năm 2045. Vậy đâu là những mục tiêu cốt lõi và giá trị “xương sống” mà chúng ta đang hướng tới?

* Thứ trưởng NGUYỄN ĐỨC CHI : Tầm nhìn đến năm 2045 của Đề án không đơn thuần là sự tăng trưởng về con số, mà là một sự thay đổi về chất trong cấu trúc nền kinh tế. Quan điểm chủ đạo là đặt cải cách thị trường tài chính (TTTC) trong tổng thể cải cách nền kinh tế, lấy cải cách thể chế là trụ cột để nâng cao hiệu quả, tính minh bạch và năng lực quản lý của Nhà nước.

Mục tiêu tổng quát là xây dựng một TTTC phát triển đồng bộ, hiện đại và hội nhập sâu rộng, có khả năng huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Chúng ta hướng tới một cấu trúc cân đối hơn, giảm sự phụ thuộc quá mức vào tín dụng ngân hàng bằng cách phát triển mạnh mẽ thị trường vốn.

Đến năm 2045, chúng ta kỳ vọng thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ có quy mô vốn hóa đạt 120% GDP và dư nợ thị trường trái phiếu đạt 60% GDP. Đây là những con số thể hiện vai trò chủ đạo của thị trường vốn trong việc cung ứng vốn trung hạn và dài hạn cho nền kinh tế.

Song song đó, hệ thống ngân hàng phải đạt chuẩn mực quốc tế, với 100% ngân hàng thương mại tiệm cận chuẩn Basel III vào năm 2030, đảm bảo tính an toàn và khả năng chống chịu trước các cú sốc tài chính toàn cầu. Có thể nói, mục tiêu lớn nhất là đưa TTTC trở thành kênh cung ứng, phân bổ nguồn lực quan trọng, là động lực để duy trì mức tăng trưởng kinh tế cao một cách bền vững.

Câu chuyện chuyển đổi số và công nghệ tài chính (Fintech) được nhắc tới như một “cú hích” trong Đề án. Những cơ chế đột phá nào sẽ được triển khai để Việt Nam không lỡ nhịp với xu thế này?

* Để bắt kịp xu hướng toàn cầu, Đề án đưa ra nhiều giải pháp đột phá, đặc biệt là việc xây dựng lộ trình để triển khai bắt đầu từ cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), sau đó mở rộng sang chứng khoán số hóa (tokenized securities), token hóa tài sản thực (RWA), trái phiếu số hóa, quỹ đầu tư số hóa và các dịch vụ lưu ký, thanh toán trên nền tảng công nghệ sổ cái phân tán (DLT).

Một đột phá khác là việc hình thành các sàn giao dịch tài sản mới. Chúng ta sẽ nghiên cứu xây dựng và vận hành thị trường tài sản mã hóa sau khi thực hiện thí điểm với các yêu cầu nghiêm ngặt về năng lực tài chính và tính tuân thủ…

Đặc biệt, nhằm hiện thực hóa các cam kết về môi trường và phát thải ròng bằng 0 (Net Zero), Đề án đặt lộ trình vận hành thị trường giao dịch tín chỉ carbon đồng bộ từ năm 2029. Những sản phẩm tài chính xanh như trái phiếu xanh, trái phiếu ESG sẽ được khuyến khích phát triển mạnh mẽ để thu hút dòng vốn bền vững.

Về hạ tầng giao dịch, một bước tiến lớn là triển khai cơ chế Đối tác bù trừ trung tâm (CCP) cho thị trường chứng khoán cơ sở vào năm 2027. Cơ chế này không chỉ giảm rủi ro thanh toán mà còn tạo điều kiện để triển khai các nghiệp vụ hiện đại như giao dịch trong ngày (T+0), bán khống có kiểm soát và các lệnh giao dịch phức tạp khác, giúp tăng mạnh tính thanh khoản cho thị trường.

Một trong những mục tiêu ngắn hạn hơn là nâng hạng thị trường chứng khoán. Đề án đã chuẩn bị gì cho mục tiêu nâng hạng lên thị trường mới nổi của MSCI vào năm 2030?

* Thứ nhất, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của thị trường vốn tiếp tục là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm thu hút hiệu quả dòng vốn đầu tư quốc tế. Mục tiêu là duy trì các tiêu chuẩn của FTSE Russell, đồng thời tiếp tục hoàn thiện các điều kiện để đáp ứng các tiêu chí nâng hạng lên thị trường mới nổi của MSCI và thị trường mới nổi bậc cao của FTSE Russell đến năm 2030.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, các giải pháp sẽ tập trung vào việc tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao tính minh bạch của thị trường, cải thiện khả năng tiếp cận của nhà đầu tư, hiện đại hóa hạ tầng giao dịch và thanh toán. Qua đó nâng cao chất lượng vận hành và sức hấp dẫn của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Thứ hai, chuẩn hóa báo cáo tài chính: đẩy nhanh lộ trình áp dụng Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS). Điều này giúp các doanh nghiệp Việt Nam “nói cùng ngôn ngữ” với các nhà đầu tư tổ chức toàn cầu, tăng tính minh bạch và khả năng so sánh.

Thứ ba, nâng cao chất lượng quản trị, áp dụng các tiêu chuẩn quản trị công ty của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) và ASEAN. Chúng ta cũng khuyến khích những quỹ đầu tư áp dụng bộ quy tắc nhà đầu tư tổ chức có trách nhiệm để thúc đẩy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp niêm yết...

Bên cạnh đó, việc đa dạng hóa hàng hóa từ cổ phần hóa các tập đoàn lớn, thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) niêm yết, và bắt buộc xếp hạng tín nhiệm đối với trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ cũng là những bước đi quan trọng để tạo ra một thị trường hấp dẫn.

Với một TTTC “mở” và hiện đại như vậy, làm thế nào để chúng ta kiểm soát được các rủi ro mới và bảo vệ nhà đầu tư?

* Đây là một thách thức lớn và cũng là một trong những mục tiêu đặt ra của Bộ Tài chính khi xây dựng Đề án. Theo đó, tăng cường quản lý giám sát thị trường là 1 trong 8 nhóm giải pháp trọng tâm của Đề án.

Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước sẽ chỉ đạo các đơn vị chức năng nâng cao hiệu quả quản lý giám sát đối với từng lĩnh vực thông qua việc đổi mới công tác giám sát theo hướng chuyển từ giám sát tuân thủ sang giám sát trên cơ sở rủi ro kết hợp với đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong công tác giám sát và quản lý thị trường, áp dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data).

Hệ thống hạ tầng giám sát cùng với trung tâm dữ liệu sẽ được nghiên cứu xây dựng đồng bộ nhằm phát hiện sớm các dấu hiệu giao dịch bất thường, thao túng giá, giao dịch nội gián, hỗ trợ truy vết giao dịch, phát hiện dòng tiền bất thường hoặc các rủi ro mới.

Đề án cũng hướng tới việc hoàn thiện mô hình giám sát kết hợp giám sát theo chức năng với giám sát giữa lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm để ngăn chặn rủi ro; giám sát luân chuyển dòng vốn trên TTTC thông qua các định chế trung gian; góp phần phòng, chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố và rủi ro hệ thống.

Trên cơ sở đó, cơ chế phối hợp và trao đổi thông tin giữa Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Công an sẽ được đẩy mạnh nhằm giám sát chặt chẽ dòng vốn, xử lý kịp thời các vụ việc phức tạp, ngăn chặn sớm nguy cơ khủng hoảng hệ thống.

Với lộ trình bài bản và những giải pháp quyết liệt, Đề án là một kế hoạch cải cách, góp phần đưa Việt Nam trở thành một quốc gia có nền tài chính phát triển, minh bạch và là điểm đến tin cậy của dòng vốn toàn cầu.

Một số điểm quan trọng trong Đề án về phát triển Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam

Vị thế trong hệ thống : Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam từng bước trở thành cấu phần quan trọng trong kết nối dòng vốn, dịch vụ tài chính và các định chế tài chính trong khu vực.

Mục tiêu và lộ trình : vận hành hiệu quả Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TPHCM và Đà Nẵng theo mô hình “một trung tâm, hai điểm đến”, hướng tới mục tiêu phát triển đạt cấp khu vực vào năm 2035 và quốc tế vào năm 2045.

Chiến lược triển khai : rà soát, đánh giá để xây dựng, cập nhật các chiến lược phát triển của từng thị trường cấu phần: ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, chiến lược phát triển Trung tâm Tài chính quốc tế...

Xây dựng luật riêng : rà soát, hoàn thiện các văn bản để quy định đầy đủ quan hệ giữa thành viên Trung tâm Tài chính và tổ chức, cá nhân trong nước; hoàn thiện quy chế hoạt động, rà soát các chính sách áp dụng tại Trung tâm Tài chính quốc tế, tiến tới xây dựng luật riêng về Trung tâm Tài chính quốc tế.