ĐBQH: Người dân cần được cảnh báo nơi sẽ ngập, không phải thông số xả hồ

Theo ĐBQH Trần Mạnh Huy, người dân không cần những thông báo kỹ thuật khó hình dung, điều người dân cần biết là nơi nào sẽ ngập, nước đến nhà lúc nào, phải di chuyển đến đâu an toàn.

Chiều 12/8, tiếp tục Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.

Quy định vận hành liên hồ chứa theo "thời gian thực"

Tham gia góp ý kiến, ĐBQH Trần Mạnh Huy (đoàn Tp.Đà Nẵng) góp ý vào quy định liên quan đến quy định vận hành liên hồ chứa theo "thời gian thực", theo đại biểu, không chỉ là yêu cầu về kỹ thuật. Bởi nếu được thiết kế đúng, đây phải là bước chuyển từ vận hành nội bộ theo quy trình tương đối tĩnh sang quản trị rủi ro toàn lưu vực dựa trên dữ liệu động.

Qua khảo sát thực tế tại lưu vực Vu Gia - Thu Bồn (Tp.Đà Nẵng), đại biểu nhận định điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không nằm ở việc từng hồ vận hành ra sao, mà ở chỗ dữ liệu chưa được kết nối đủ nhanh để dự báo tác động tới hạ du.

ĐBQH: Người dân cần được cảnh báo nơi sẽ ngập, không phải thông số xả hồ- Ảnh 1.

ĐBQH Trần Mạnh Huy (Ảnh: Media Quốc hội).

"Các lưu vực có thể có đặc điểm và ngưỡng vận hành khác nhau nhưng không thể hình thành những "ốc đảo dữ liệu", mỗi nơi một chuẩn, một cách hiểu khác nhau về thời gian thực. Dữ liệu không thiếu, chủ hồ có dữ liệu vận hành, cơ quan khí tượng có dữ liệu dự báo mưa, địa phương có dữ liệu phục vụ ứng phó. Nhưng điểm nghẽn là các nguồn này chưa kết nối đủ để hỗ trợ dự báo, vận hành và cảnh báo sớm cho vùng hạ du", ông Huy nói.

Đại biểu Tp.Đà Nẵng cho rằng cần thiết lập cơ chế liên thông dữ liệu giữa hệ thống quản lý tài nguyên nước, khí tượng thủy văn và phòng, chống thiên tai. Qua đó biến dữ liệu vận hành liên hồ thành đầu vào kịp thời cho công tác dự báo, cảnh báo sớm và ứng phó.

Từ thực trạng này, đại biểu đề xuất luật hóa 3 nguyên tắc. Thứ nhất, luật hóa nguyên tắc dữ liệu "thời gian thực". 

Theo đó, dữ liệu phục vụ vận hành liên hồ phải được kết nối đồng bộ, có định danh nguồn, dấu thời gian, cơ chế định kỳ và lưu vết. Luật quy định nguyên tắc, còn Chính phủ quy định chi tiết về tiêu chuẩn kỹ thuật, tần suất cập nhật và yêu cầu đối với hạ tầng dữ liệu.

Thứ hai, luật hóa yêu cầu kết nối dữ liệu phục vụ dự báo tác động tới vùng hạ du. Với các lưu vực có nguy cơ cao, quy trình vận hành liên hồ theo "thời gian thực" phải bảo đảm khả năng kết nối, khai thác và chia sẻ dữ liệu với các hệ thống khí tượng thủy văn, phòng, chống thiên tai và hệ thống dữ liệu liên quan.

Việc này, nhằm phục vụ dự báo dòng chảy, mô phỏng các kịch bản vận hành và đánh giá tác động đối với vùng hạ du.

"Người dân không cần những thông báo kỹ thuật khó hình dung, chẳng hạn hồ xả 1.500 hay 2.000m3/s. Điều người dân cần biết là nơi nào sẽ ngập, nước đến nhà lúc nào, ngập bao nhiêu, trong bao lâu, đường nào bị chia cắt và phải di chuyển đến đâu an toàn", đại biểu Huy cho hay.

Ông nhìn nhận, nếu những thông tin này đến được với chính quyền và người dân đủ sớm, đủ tin cậy, đủ rõ để hành động thì thiệt hại về người và tài sản ở vùng hạ du sẽ được giản thiểu đáng kể. Đó mới là giá trị cuối cùng của dữ liệu "thời gian thực".

Vấn đề thứ ba được đại biểu đề nghị luật hóa là trách nhiệm chia sẻ và truy vết thông tin. Quy trình phải xác định rõ chủ thể cung cấp, chủ thể tiếp nhận, thời điểm chia sẻ và trách nhiệm cụ thể khi thông tin vận hành bị sai, chậm trễ hoặc không được cung cấp.

Ông Trần Mạnh Huy cũng đề nghị Chính phủ rà soát, đồng bộ 11 quy trình vận hành liên hồ hiện nay, bảo đảm thống nhất về kết nối, chia sẻ và truy vết thông tin vận hành.

"Thước đo cuối cùng không chỉ là hồ có vận hành đúng quy trình hay không, mà là thông tin có đến được với chính quyền và người dân vùng hạ du đủ sớm để hành động hay không", ông Huy nhấn mạnh.

Theo đại biểu, nếu dữ liệu vẫn dừng ở hồ chứa mà chưa được chuyển thành thông tin giúp người dân và chính quyền hành động sớm thì "thời gian thực" vẫn chưa hoàn thành ý nghĩa của mình.

Không làm tốt được phòng ngừa, hệ quả sẽ rất lớn

Đóng góp ý kiến liên quan đến Điều 7 của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tài nguyên nước. Đại biểu Nguyễn Khánh Ngọc (đoàn Tp.Đà Nẵng) cho biết đây là nội dung mà cử tri ở 22 xã, phường ở trung, hạ lưu sông Thu Bồn cũng rất quan tâm.

Đại biểu đề nghị cân nhắc kỹ hơn việc lược bỏ toàn bộ quy định hiện hành của Luật Tài nguyên nước trong việc không yêu cầu nhà đầu tư vào các dự án khi muốn chuyển nước ra khỏi lưu vực sông, phải có phương án và được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

ĐBQH: Người dân cần được cảnh báo nơi sẽ ngập, không phải thông số xả hồ- Ảnh 2.

ĐBQH Nguyễn Khánh Ngọc (Ảnh: Media Quốc hội).

Đại biểu nêu một số lý do. Thứ nhất, trong Luật Tài nguyên nước cũng đã đưa ra một quy định rất rõ tại Điều 4, các nguyên tắc trong quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên nước lấy phòng ngừa là chính. Nếu không làm tốt được phòng ngừa thì hệ quả rất lớn và khả năng khắc phục vô cùng khó khăn.

Đại biểu đề nghị cân nhắc kỹ việc bỏ toàn bộ yêu cầu các dự án chuyển nước khỏi lưu vực sông mà không cần phê duyệt.

Đại biểu Khánh Ngọc cũng kiến nghị thiết kế Điều 37 rõ giống như đèn giao thông "đèn đỏ, đèn vàng, đèn xanh". Khi nào thì không thể được, khi nào có thể được và khi nào phải có cân nhắc và sự phê duyệt của cơ quan quản lý Nhà nước.

"Như vậy sẽ dung hòa, tạo điều kiện cho sản xuất kinh doanh cũng như bảo đảm được những lợi ích chung", đại biểu Nguyễn Khánh Ngọc nói.

Đối với việc xây dựng, điều chỉnh quy trình vận hành liên hồ, liên hồ chứa, đại biểu mong muốn việc điều chỉnh Điều 38 cần hướng tới cơ sở, lấy ý kiến của người dân, những đối tượng trực tiếp bị tác động bởi việc vận hành những quy trình này. 

Nêu ý kiến với lĩnh vực tài nguyên nước, ĐBQH Đặng Anh Tuấn (đoàn Tp.Đồng Nai) cho biết, với đơn giản hóa các thủ tục hành chính đại đề nghị phải bảo đảm cơ chế kiểm soát đối với hoạt động chuyển nước lưu vực sông và tác động vào thời tiết, nhất là các hoạt động có phạm vi ảnh hưởng liên tỉnh và liên vùng.

ĐBQH: Người dân cần được cảnh báo nơi sẽ ngập, không phải thông số xả hồ- Ảnh 3.

ĐBQH Đặng Anh Tuấn (Ảnh: Media Quốc hội).

Bên cạnh đó, việc vận hành liên hồ chứa theo "thời gian thực" cần quy định rõ việc sử dụng thống nhất dữ liệu khí tượng thủy văn, tài nguyên nước và dữ liệu vận hành hồ.

"Hoạt động tác động vào thời tiết nên quản lý theo mức độ rủi ro, không nên chuyển toàn bộ từ cơ chế thẩm định, phê duyệt sang thông báo, đặc biệt là đối với trường hợp có nguy cơ ảnh hưởng lớn", đại biểu nêu ý kiến.

Theo đại biểu, việc sửa đổi Điều 37, Điều 38 của Luật Tài nguyên nước nhằm tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính, làm rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nước và tạo điều kiện thuận lợi hơn trong quá trình tổ chức thực hiện.

Đại biểu đề nghị bổ sung rõ nguyên tắc: Không làm ảnh hưởng đến khả năng bảo đảm an ninh nguồn nước, cấp nước sinh hoạt và dòng chảy tối thiểu và nhu cầu sử dụng nước thiết yếu của lưu vực bị chuyển nước, đặc biệt trong thời kỳ hạn hán và thời kỳ thiếu nước.

Sửa 10 luật lĩnh vực nông nghiệp, môi trường đảm bảo thực chất, không tạo ra khoảng trống pháp lý

Đề nghị quy định rõ trách nhiệm lấy ý kiến các địa phương có liên quan, tổ chức lưu vực sông và cơ quan chuyên môn trước khi thực hiện. Đồng thời, có cơ chế điều chỉnh, giảm hoặc tạm dừng lượng nước chuyển khi nguồn nước không còn đáp ứng được yêu cầu...

Đại biểu cũng cho rằng cần bổ sung cơ chế xử lý trong các tình huống bất thường như dự báo mưa lũ thay đổi nhanh, hạn hán nghiêm trọng, xâm nhập mặn, sự cố công trình hoặc khi số liệu giữa các hệ thống quan trắc có sự khác biệt.

Trong những trường hợp này thì phải xác định rõ thẩm quyền quyết định, thứ tự ưu tiên cấp nước và trách nhiệm của từng người ra quyết định vận hành.

Bên cạnh đó đại biểu đề nghị làm rõ hơn cái nội hàm duy trì dòng chảy, nhất là yêu cầu bảo đảm dòng chảy tối thiểu và chế độ dòng chảy cần thiết cho hạ du sau khi thực hiện chuyển nước.