2 loại cá chứa nhiều thủy ngân, loại số 1 dù thích đến mấy cũng "giữ mồm giữ miệng"

Không phải loại cá nào cũng phù hợp để ăn thường xuyên. Những loài sống trong môi trường nước ô nhiễm dễ tích tụ thủy ngân, tiềm ẩn nguy cơ cho sức khỏe.

Cá là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng, cung cấp protein, omega-3 và nhiều khoáng chất thiết yếu cho cơ thể. Tuy nhiên, một số loài cá có thể chứa hàm lượng thủy ngân cao, gây hại cho sức khỏe nếu tiêu thụ quá mức. 

Thực tế đã ghi nhận nhiều trường hợp phơi nhiễm thủy ngân do ăn phải các loại cá tích tụ kim loại này vượt ngưỡng an toàn.

Cá trê

Theo một số nghiên cứu và báo cáo, cá trê nằm trong danh sách những loại cá có khả năng chứa hàm lượng thủy ngân cao hơn so với các loại cá khác. Tuy nhiên, mức độ thủy ngân trong cá trê có thể khác nhau tùy thuộc vào nguồn gốc, kích thước và môi trường sống của cá.

Cá trê là loài ăn tạp và có khả năng thích nghi với nhiều môi trường khác nhau, bao gồm cả những khu vực nước kém sạch. Vì vậy, nếu sinh sống trong môi trường bị ô nhiễm, cá có thể bị ảnh hưởng đến chất lượng.

Để yên tâm hơn khi sử dụng, bạn nên ăn cá trê với tần suất hợp lý, đồng thời ưu tiên lựa chọn sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng, từ nơi cung cấp uy tín và được chế biến kỹ trước khi ăn.

Cá mập
2 loại cá dễ

Ảnh minh họa.

Cá mập vốn nổi tiếng là loài săn mồi đầu bảng trong đại dương. Với khả năng ăn nhiều loài cá nhỏ trong thời gian dài, cá mập dễ dàng tích lũy lượng thủy ngân vượt ngưỡng an toàn.

Một nghiên cứu tại Mỹ năm 2011 cho thấy hàm lượng thủy ngân trong cá mập có thể cao gấp 2-6 lần mức tối đa cho phép đối với con người.

Mặc dù cá mập không phổ biến trong bữa ăn hằng ngày của người Việt, song tại một số vùng ven biển vẫn xuất hiện món ăn chế biến từ vây hoặc thịt cá mập. Các chuyên gia dinh dưỡng cảnh báo người tiêu dùng cần đặc biệt thận trọng.

Việc tiêu thụ lâu dài có thể gây nguy cơ ngộ độc thủy ngân, gây tổn thương niêm mạc miệng, răng và làm ảnh hưởng đến đường tiêu hóa, thận nghiêm trọng.

Nhìn chung, những loại cá lớn hơn và sống lâu hơn có xu hướng chứa nhiều thủy ngân. Những loài này có xu hướng ăn nhiều loại cá nhỏ hơn, bản thân những cá nhỏ này cũng đã chứa một lượng nhỏ thủy ngân. Vì chất này không dễ bài tiết ra khỏi cơ thể nên hàm lượng thủy ngân trong cá sẽ tích tụ theo thời gian.

Trong môi trường nước ô nhiễm, kim loại nặng có thể tích tụ dần trong mô thịt và lớp da cá mà mắt thường khó nhận biết. Việc tiêu thụ lâu dài các loại cá này có thể làm tăng nguy cơ rối loạn chức năng gan, thận, ảnh hưởng hệ thần kinh và suy giảm sức đề kháng. Trẻ nhỏ, người cao tuổi hoặc người có bệnh nền là những nhóm dễ chịu tác động rõ rệt hơn, với các biểu hiện như mệt mỏi kéo dài, đau đầu, rối loạn tiêu hóa.

2 loại cá dễ Bé 2 tuổi tử vong vì tò mò ăn món "vạn người mê"ĐỌC NGAY

Các kim loại nặng như thủy ngân, chì, cadimi có thể xâm nhập và tích lũy trong cơ thể cá thông qua chuỗi thức ăn, tồn tại lâu dài trong mô thịt. Nếu con người hấp thụ với lượng lớn trong thời gian dài, những chất này có thể gây tổn hại hệ thần kinh, gan, thận và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tổng thể.

Thủy ngân là một nguyên tố tự nhiên được tìm thấy trong đất, nước và không khí. Mặc dù một lượng nhỏ trong thực phẩm có thể không ảnh hưởng đến sức khỏe nhưng quá nhiều có thể gây ngộ độc.

Nhiễm độc thủy ngân có thể gây ảnh hưởng đến thần kinh. Một số vấn đề và triệu chứng bao gồm: Vấn đề về trí nhớ, run cơ, lo lắng, khó chịu và trầm cảm; mất ngủ, đau đầu, mất thị lực, nói kém, yếu cơ...

Việc hấp thụ thủy ngân đặc biệt nguy hiểm trong thời kỳ mang thai và trẻ sơ sinh, khi độ nhạy cảm với các tác động của thủy ngân tăng lên. Mức độ cao của thủy ngân trong thai kỳ có thể gây ra thai chết lưu, dị dạng sọ mặt, dị tật ống thần kinh, tổn thương não và bại não ở trẻ.

Trúc Chi (t/h)